Tôi đã tự ứng cử vào hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội khóa 1994-1999 như thế nào?

W.Minh Tuấn

Năm 1994, lần đầu tiên ở Việt Nam, Luật bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp cho phép có ứng cử viên độc lập, tức cho phép tự ứng cử.

Đây là sự đổi mới chưa từng có ở Việt Nam.

Trước năm 1994, các ứng cử viên cho bầu cử hội đồng nhân dân chỉ là người do các tổ chức đề cử, mà thực chất là do đảng giới thiệu.

Lúc đầu tôi cũng không chú ý lắm đến quy định cởi mở này. Người Việt Nam vẫn chưa quen với dân chủ. Người Việt Nam không quan tâm đến bầu cử lắm, cả bầu cử Quốc hội lẫn bầu cử Hội đồng nhân dân, mặc dù mỗi lần bầu cử đều có gần 100% cử tri đi bỏ phiếu. Cách tiến hành bầu cử ở Việt Nam từ trước tới nay khiến cho người dân không quan tâm nhiều đến bầu cử, đến người mà mình sẽ bầu.

Khi đi bầu cử, có danh sách các ứng cử viên và ảnh chụp chân dung ứng cử viên dán ở khu vực bầu cử. Nếu ai quan tâm thì dừng lại dăm phút để đọc, nghiên cứu tiểu sử các ứng cử viên. Nhưng vài dòng tiểu sử và tấm ảnh chân dung của ứng cử viên không nói lên gì nhiều.

Và cuối cùng, là không mấy người dân tin ở kết quả kiểm phiếu. Người ta nói với nhau là dù có bầu, hay không bầu cho ông này, ông kia, thì các ông ấy vẫn trúng phiếu cao. Bởi vì ở Việt nam không có cơ quan độc lập kiểm phiếu.

Ở Việt Nam không có mấy ai nghĩ rằng lá phiếu bầu của mình có thể quyết định vận mệnh đất nước. Bởi vì người ta vẫn nghĩ rằng đảng quyết định tất cả, chứ không phải nhân dân. Bởi vậy người ta bầu cho xong chuyện, bầu theo cảm tính, chứ không phải bầu vì mình chọn người này, người kia.

Với cách bầu cử như vậy, việc bầu cử là hết sức cảm tính, và tùy tiện. Người có chức vụ to, thường xuất hiện trên tivi, trên báo chí thì được nhiều người biết, nên rất dễ trúng cử.

Ngay ở cơ quan tôi, báo Đại Đoàn Kết, được tiếng là một cơ quan báo chí đấu tranh cho dân chủ, công bằng xã hội, nhưng mỗi lần họp chi bộ đảng, là phòng họp cửa đóng then cài kín mít, không cho ai nhìn vào. Anh em ngoài đảng chúng tôi thường hay nói đùa :

“Này, mấy ông đảng viên kia hình như đang bàn chuyện phản động chống chính quyền gì đó, mà họp kín mít thế, sợ không cho ai biết”.

Bởi vậy vào năm 1994, tôi cũng không quan tâm đến việc luật cho phép có ứng cử viên độc lập, tức là tự ứng cử.

Một hôm, anh Ngô Cường, phóng viên báo Đại Đoàn Kết phụ trách viết về bầu cử, đi dự họp báo về bầu cử, về nói với tôi là Hà Nội không có ai tự ứng cử cả, mà thời hạn nộp hồ sơ ứng cử không còn nhiều.

Anh có vẻ chán nản, thở dài sườn sượt. Anh nói “người ta vẫn chưa quen với dân chủ”.

Tôi nhìn anh Ngô Cường ngồi thở dài sườn sượt, và cũng thấy bực mình với tình trạng người dân chưa quen với dân chủ.

“Đấy, cứ đòi dân chủ nữa đi, thế mà bây giờ đảng, nhà nước cho rồi đấy, thì lại không biết mà làm”, tôi lẩm bẩm.

Thế rồi tôi chợt thấy mình vô lý.

Người dân là ai?

Tôi cũng là người dân chứ ai nữa.

Vậy nếu tôi không biết thực hiện quyền dân chủ đó, thì đừng có trách người khác.

Thế là tôi buột miệng nói với anh Ngô Cường:

-Này, anh Cường, hay là em tự ứng cử cái nhỉ?

-Ừ, tại sao không nhỉ? Anh Cường nhìn tôi hơi ngạc nhiên rồi đồng ý ngay. Cậu ứng cử được đấy.

Không kịp suy nghĩ gì hết, tôi liền hỏi xin anh Cường một bộ hồ sơ hướng dẫn ứng cử, và đọc nghiến ngấu, trong đầu vẫn chưa có một kế hoạch rõ nét. Buổi chiều tôi đến trụ sở Mặt trận tổ quốc Hà Nội, ở phố Hai Bà Trưng, là trụ sở của Hội đồng bầu cử Hà Nội (đây là nơi của đại sứ quán Mỹ cũ, thời thuộc Pháp, bây giờ, thời cộng sản của ta, lại giáo lại cho Đại sứ quán Mỹ sử dụng).

Tiếp tôi là một bác đã đứng tuổi, nom rất hiền lành.

-Đồng chí định tự ứng cử à? Bác này hỏi tôi rất trịnh trọng, dùng từ “đồng chí” để gọi tôi.

-Dạ vâng ạ.

-Thế, đồng chí định ứng cử ở phường nào?

-Dạ không, cháu,,,tôi hơi ngập ngừng,,,cháu không ứng cử cấp phường ạ.

-Thế ở quận nào?

-Dạ, cũng không quận ạ. Cháu,,,-tôi chưa dám nói rõ ý định của mình.

-Thế đồng chí định ứng cử ở đâu? Rõ ràng bác này chưa tin tôi sẽ ứng cử cấp thành phố.

-Dạ, cháu định xin ứng cử vào Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ạ, tôi mạnh dạn nói.

-Thế à.

Bác này nhìn tôi hơi thoáng vẻ ngạc nhiên, nhưng sau đó mỉm cười ý nhị, niềm nở mời tôi lên phòng trên gác ngay.

Tôi đoán bác này vừa đưa tôi lên phòng gác hai, vừa suy nghĩ xem tôi là loại người nào.

Bác đưa cho tôi một bộ hồ sơ ứng cử, giải thích rõ chi tiết cách làm, và giục tôi làm nhanh lên, vì sắp hết thời gian đăng ký.

Tôi mang hồ sơ về, làm sơ yếu lý lịch, và đề nghị ông Tổng biên tập Ngọc Thạch ký xác nhận lý lịch cho tôi. Ông Tổng biên tập nhìn tôi ngạc nhiên, nhưng sau đó có vẻ cũng thích thú với ý định tự ứng cử của tôi. Ông nhanh chóng ký xác nhận lý lịch cho tôi.

Hôm sau tôi mang ngay hồ sơ lên nộp cho bác già hôm trước ở Hội đồng bầu cử Hà Nội. Chỉ sau đó mấy hôm, Hội đồng bầu cử cử cán bộ đến báo Đại Đoàn Kết để làm việc với lãnh đạo báo, chuẩn bị cho cuộc họp bỏ phiếu lần một cho tôi.

Cuộc bỏ phiếu vòng một là cơ quan của ứng cử viên phải bỏ phiếu tín nhiệm cho ứng cử viên. Như vậy cơ quan tôi sẽ bầu tôi trước.

Cuộc bỏ phiếu ở cơ quan được tổ chức, có đại diện của Mặt trận tổ quốc Trung ương, rồi Mặt trận tổ quốc Hà Nội, và đại diện Hội đồng bầu cử Hà Nội.

Tôi bắt đầu thấy hơi lo lắng, vì thấy cái việc làm đơn giản của mình, là thực hiện quyền công dân, mà sao được sự chú ý đặc biệt của các cơ quan Nhà nước thế.

Tại cuộc họp bỏ phiếu của cơ quan báo Đại Đoàn Kết, tôi phải phát biểu ý kiến, giải thích vì sao tôi xin tự ứng cử.

Thật là khó nói.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi phải phát biểu một vấn đề nghiêm trọng, lớn lao như vậy. Khi đó tôi là ứng cử viên độc lập đầu tiên của Hà Nội, và cũng là một trong 6 người ít ỏi đầu tiên ở cả nước Việt Nam xin tự ứng cử, trong toàn bộ lịch sử nước Việt Nam Cộng sản. (trong 6 người này, cuối cùng chỉ còn 2 người, là tôi ở Hà Nội, và một bác sỹ ở Sài Gòn)

Cuối cùng tôi nói ngắn gọn, đại ý:

-Vì đảng và nhà nước cho phép người dân lần đầu tiên được thực hiện quyền tự ứng cử, nên tôi nghĩ rằng tôi, với tư cách là một người dân, tôi hãy thực hiện quyền mà đảng và nhà nước cho. Tôi là nhà báo, viết báo, khích lệ người dân hãy thực hiện quyền tự ứng cử mà đảng và nhà nước cho phép. Nhưng mà tôi cũng là người dân, sao tôi không trực tiếp tự mình thực hiện quyền đó, mà chỉ viết báo khích lệ người khác thôi à?

Thế thì tôi xin trực tiếp thực hiện quyền đó trước, rồi mới viết báo khích lệ người ta thực hiện quyền đó sau.

Tôi hiện nay là một nhà báo. Với tư cách là nhà báo, tôi đang làm việc để đóng góp cho quá trình phát triển của đất nước.

Và nay tôi xin tự ứng cử, thực hiện quyền công dân. Nếu tôi trúng cử vào Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, tôi sẽ có một tư cách nữa, tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố, để tiếp tục đóng góp có hiệu quả hơn cho đất nước, cho sự phát triển xã hội.

Tôi muốn nói thêm nữa, rằng nếu tôi trúng cử, tôi sẽ có một vũ khí lợi hại để đấu tranh với các bất công xã hội , để có thể bênh vực có hiệu quả những người dân lành đang bị oan khuất,,,,.

Nhưng tôi thấy như vậy là đủ. Nói nhiều chẳng ích gì.

Kết quả bầu phiếu kín ở cơ quan tôi, tôi được gần 100% phiếu ủng hộ. Tôi biết ở cơ quan tôi, có nhiều người không ưa tôi, nhưng vào cuộc bầu cử, họ vẫn ủng hộ tôi. Tôi rất cảm động trước những cử chỉ nghĩa hiệp, đẹp đẽ đó.

Tôi cảm thấy một trách nhiệm mới bắt đầu đặt lên vai mình.

Đây không phải là một trò đùa. Đây là một việc làm nghiêm túc.

Đó là kết thúc cuộc bầu cử thứ nhất.

Ngay tối ngày hôm sau là cuộc bầu cử thứ hai, tức là tổ dân phố nơi tôi cư trú sẽ bầu tôi.

Khoảng trên 40 người dân được mời đến dự cuộc bầu chọn tôi. Đại diện Hội đồng bầu cử thành phố Hà Nội rất hài lòng thấy có nhiều người dự cuộc họp bầu này. Nhiều nơi người dân rất thờ ơ với bầu cử, nên rất khó tập hợp người dân đến đông đủ trong một cuộc bỏ phiếu chọn ứng cử viên này.

Phần lớn người dân ở nơi tôi cư trú đều biết tôi, và đều quý mến tôi. Tôi có quan hệ tốt với tất cả những người hàng xóm.

Nhiều người đứng lên phát biểu ý kiến về tôi. Tất cả đều có ý kiến tốt về tôi. Sau đó là biểu quyết bằng giơ tay. Tôi được 100% số người tham dự giơ tay ủng hộ việc tự ứng cử của tôi.

Sau đó là cuộc họp kín của Hội đồng bầu cử thành phố Hà Nội.

Hội đồng bầu cử có đồng ý cho tôi được đưa vào danh sách ứng cử viên chính thức cho cuộc bầu cử chính thức sắp tới hay không, đó là quyền của Hội đồng bầu cử, tôi không biết.

Dù tôi có vượt qua được hai vòng bầu cử đầu tiên ở cơ quan tôi, và ở tổ dân phố, nhưng ở vòng hiệp thương thứ ba này, nếu Hội đồng bầu cử gạt tôi ra khỏi danh sách ứng cử viên chính thức, thì tôi cũng đành phải chấp nhận.

Tôi rất ngạc nhiên vì ở vòng hiệp thương thứ ba này, tôi được Hội đồng bầu cử Hà Nội ủng hộ, đồng ý đưa tôi vào danh sách ứng cử viên chính thức. Sau này tôi được biết là đã có nhiều sự cân nhắc để Hội đồng bầu cử Hà Nội chọn tôi.

Sau đó tôi được bố trí đi tiếp xúc cử tri là các thanh niên, do Đoàn thanh niên Hà Nội tổ chức. Tôi đứng lên phát biểu ngắn gọn, vì tôi biết nó mang nặng tính hình thức.

Nhưng có rất nhiều nhà báo nước ngoài khi thấy tên tôi trong danh sách ứng cử viên chính thức, thì họ rất quan tâm.

Dù sao thì đây cũng là một “ứng cử viên độc lập” đầu tiên của Hà Nội, và cũng là một trong vài người tự  ứng cử đầu tiên của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhiều nhà báo nước ngoài đã đến phỏng vấn tôi, trong đó có báo Asahi Simbun của Nhật. Nhà báo Mizuno, trưởng phân xã báo Asahi Shimbun đã phỏng vấn, chụp ảnh và đăng một bài dài về tôi trên trang nhất báo Asahi Shimbun, tiếng Nhật, sau đó đã tặng tôi số báo đó, tôi vẫn giữ số báo đó đến nay đẻ làm kỷ niệm.

Sau đó là cuộc bầu cử chính thức. Tôi ở hòm phiếu số thuộc quận Hai Bà Trưng.

Kết quả bầu cử của tất cả 11 hòm phiếu khác ở Hà Nội vào năm 1994 đó đều diễn ra theo đúng các dự kiến của Hội đồng bầu cử, trừ hòm phiếu của tôi.

Hòm phiếu của tôi có 4 ứng cử viên, bầu 2.

Ông chánh thanh tra thành phố Hà Nội trúng cử, tôi không trúng, nhưng số phiếu đạt hơn 49%. Một ông giám đốc công ty cũng được xấp xỉ số phiếu của tôi, khoảng 49% số phiếu, còn ông Chủ tịch hội nhà báo Hà Nội thì được số phiếu rất thấp.

Như vậy ở hòm phiếu của tôi chỉ có một người trúng, là ông Chánh thanh tra thành phố Hà Nội, còn 3 người trượt.

Theo luật bầu cử thì hòm phiếu của tôi phải bầu lại, để có thêm một người trúng cử, để bảo đảm Hà Nội có đủ số đại biểu Hội đồng nhân dân theo luật định, là 85 người.

Việc bầu lại đã được tổ chức, hòm phiếu bầu lại mang số 13, và kết quả đã tôi trúng cử với hơn 80% phiếu bầu.

Hóa ra con số 13 không phải là con số bất hạnh, mà là con số may mắn của tôi.

Sau khi trúng cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội năm 1994, tôi bắt đầu làm việc với 2 tư cách: nhà báo, và đại biểu Hội đồng.

Với tư cách nhà báo, tôi có 1 Thẻ nhà báo do Bộ Văn hóa-Thông tin cấp, có 1 gạch chéo đỏ trông rất ấn tượng, có vẻ rất quyền lực.

Với tư cách đại biểu HDND TP Hà Nội, tôi có 1 Thẻ đại biểu HDND màu đỏ, cũng có vẻ rất quyền lực.

Trong phiên họp đầu tiên của hội đồng nhân dân Hà Nội, nhiệm vụ quan trọng là bầu ra chủ tịch mới.

Tiến sỹ khoa học Hoàng Văn Nghiên do trung ương giới thiệu. Ông Đinh Hạnh, phó chủ tịch Hà Nội, đã đứng lên xin tự ứng cử chức chủ tịch.

Như vậy là có 2 ứng cử viên cho chức chủ tịch Hà Nội.

Ông Hoàng Văn Nghiên là một nhà tri thức, một nhà doanh nghiệp đầu tiên ở Việt Nam được bầu làm chủ tịch thành phố Hà Nội, và lại là thành phố thủ đô.

Ông Hoàng Văn Nghiên nguyên là tiến sĩ khoa học, học ở một nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu về, sau đó làm giáo viên của trường Đại học bách khoa Hà Nội, rồi làm Giám đốc công ty điện tử Hanel, một công ty sản xuất tivi hồi đầu khá thành công, nhưng nay thì thấy tắt ngấm.

Ông Hoàng Văn Nghiên tỏ ra rất bình tĩnh, và rất ủng hộ phương án bầu “không tròn” như truyền thống lâu nay vẫn làm này.

Kết quả, ông Nghiên trúng cử. Ông Đinh Hạnh không trúng cử.

Ông Đinh Hạnh sau này dính líu đến vụ Thủy Cung Thăng Long, nên bị cách chức tất cả, chỉ còn là đảng viên thường.

Cách bầu cử “không tròn” này là một đổi mới mạnh dạn của Hà Nội, của ông Hoàng Văn Nghiên, tiếc rằng nó còn rất, rất, rất hiếm ở Việt Nam.

Trong các cuộc họp Hội đồng nhân dân Hà Nội sau đó, tôi đã chất vấn ông chủ tịch Hà Nội Hoàng Văn Nghiên, và chất vấn lãnh đạo thành phố Hà Nội về vụ phá đê làm nhà.

Tôi nói đại ý lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam chỉ thấy các triều đại phong kiến ra sức tu bổ đê điều, phòng chống thiên tai, nhưng riêng ngày nay thì chính quyền Hà Nội cho phá đê sông Hồng để lấy đất làm nhà, xây khách sạn kiếm tiền.

Trong số các đại biểu hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, tôi rất quý trọng bà Nghiêm Chưởng Châu, Trưởng ban văn hóa-xã hội của hội đồng.

Bà Nghiêm Chưởng Châu nguyên là Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, sau đó là Thứ trưởng Bộ giáo dục, rồi về hưu.

Bà được giới thiệu ứng cử vào Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đã nghỉ hưu, để làm đại biểu chuyên trách.

Ở Việt Nam, phần lớn các đại biểu cơ quan dân cử, tức các nghị sĩ, đều là kiêm nhiệm, như tôi, vừa là nhà báo, vừa là đại biểu. Chỉ một số chức danh như làm trưởng các ban của các hội đồng, chuyên viên và trưởng các ban của quốc hội mới là đại biểu chuyên trách.

Bà Nghiêm Chưởng Châu là một đại biểu dám nói thẳng nói thật, dám chất vấn các vấn đề khó mà các đại biểu khác sợ, không dám chất vấn.

Cái ấn tượng lớn nhất trong suốt 5 năm tôi làm đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, là mỗi kỳ họp hội đồng (một năm 2 lần), một số nhân dân Hà Nội tập trung khá đông ngay trước cổng trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, nơi có kỳ họp, để đưa đơn khiếu nại tố cáo. Thỉnh thoảng họ giơ cao các khẩu hiệu đề dòng chữ to “Đả đảo bọn tham nhũng”.

Rất nhiều người thường đến báo Đại Đoàn Kết để đưa đơn, nên họ biết mặt tôi. Khi đi vào phòng họp hội đồng, tôi chào họ và thấy xấu hổ, vì tôi không làm được gì để giúp họ cả. Với tư cách là nhà báo, đôi lúc tôi có thể giúp họ được tốt hơn là với tư cách đại biểu. Tôi thất vọng nhận ra như vậy.

Trong thời gian 5 năm làm đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, 1994-1999, tôi tự xem lại mình, thấy mình hầu như chẳng làm được gì cả.

Mỗi năm vài lần, tôi cùng Ban Văn hóa của Hội đồng đi kiểm tra các nơi, kiểm tra trại giam, kiểm tra ngành giáo dục, văn hóa,,,nhưng mà chỉ là cách làm rất hành chính, rồi đi thăm-đi chơi các địa phương như Sài Gòn, Lai Châu, Tuyên Quang,,,.

Công việc thành công nhất của tôi trong 5 năm làm đại biểu, là tôi đã chất vấn vụ Thủy Cung Thăng Long, một dự án cấp đất mờ ám ở Hà Nội, liên quan đến Phó thủ tướng Ngô Xuân Lộc, và một loạt các lãnh đạo thành phố Hà Nội.

Sau khi chất vấn, tôi tự làm điều tra, và viết phóng sự điều tra về vụ Thủ cung Thăng Long. Kết quả, dự án bị hủy bỏ, Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc bị cách chức.

Tôi được giải nhì của Hội Nhà báo Việt Nam về phóng sự điều tra này. Hội Nhà báo không dám cho tôi giải nhất, vì sợ làm bẽ mặt chính phủ và thành phố Hà Nội.

Thứ hai, tôi đã bênh vực thành công vụ lấy đất làm đường Trần Khát Chân ở Hà Nội. Những người dân bị di dời lấy đất làm đường, suốt mấy năm không được cấp đất đền bù làm nhà chỗ khác, cứ phải đi ở nhờ vạ vật suốt mấy năm. Tôi đã đưa vụ việc ra chất vấn tại HDND HN, và viết báo về vụ này, cuối cùng những người dân này được cấp đất đền bù, và làm nhà mới.

Họ đã đến báo Đại Đoàn Kết cảm ơn tôi bằng mấy gói hoa quả, như táo, cam, quít.

Sau đó, năm 1997, đảng và Nhà nước lại cho phép có ứng cử tự do vào Quốc hội, tôi cũng đã xin ứng cử, đã vượt qua 2 vòng bầu cử ở cơ quan, và tổ dân phố.

Nhưng đến vòng hiệp thương thứ 3 ở Hội đồng bầu cử Hà Nội, tên tôi đột nhiên bị vứt ra khỏi danh sách ứng cử viên, nên cử tri không thể bầu cho tôi.

Tôi sẽ nói rõ việc này ở bài báo sau.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *