Lẽ hưng -vong của đất nước

Sử cũ của ta chép lại rằng ông Nguyễn Nguyên Ức, quê ở Bắc Ninh, là thiền sư thời nhà Lý, sinh năm 1080, mất năm 1151, cách đây gần 1000 năm. Ông đã thi đỗ 2 khoa thi, trụ trì chùa Ấn Quốc, được các vua Lý rất trọng đãi.

Thiền sư Nguyễn Nguyên Ức có nhiều ý kiến đóng góp cho vua Lý Thần Tông về phép trị nước, nổi tiếng là bài trần tình về lẽ hưng vong, trị loạn của quốc gia. Bản trần tình viết:

“Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan, được (lòng) người thì nước trị, mất (lòng) người thì nước loạn. Thần trải xem các bậc đế vương đời trước, thấy chưa từng ai không dùng quân tử mà hưng được nghiệp, không dùng tiểu nhân mà bị tiêu vong. Tuy nhiên nguồn gốc dẫn đến những sự hưng vong đó, không phải là cái cớ một sớm một chiều. Chúng xuất hiện dần dần. Ví như trời đất, không thể nóng hay rét bất thần, mà phải biến chuyển dần dần qua mùa xuân thu. Vua chúa cũng không thể bất thần hưng hay vong được, mà phải dần dần do làm thiện hay gây ác”.

Thiền sư khuyên nhà vua nên biết đãi người hiền tài, chăm lo cho dân, để cho nước được hưng, không vong.

Toàn bộ diễn biến trong lịch sử nước ta từ xưa đến nay đã chứng minh cái lẽ hưng vong đó của thiền sư Nguyễn Nguyên Ức. Nhà Lý đánh bại được quân xâm lược Tống, nhà Trần 3 lần đánh bại quân xâm lược Nguyên – Mông, là nhờ triều đình biết chăm lo cho dân, trọng dụng kẻ hiền tài. Nhưng khi triều đình bắt đầu ham chơi, tham nhũng, khinh bạc người hiền tài, không chăm lo cho dân, thì nước bắt đầu loạn, chính quyền rơi vào tay người khác. Và đã có ít nhất 2 lần, kẻ thù phương Bắc lợi dụng lúc nước ta loạn, đã đem quân vào xâm lược, đó là nhà Minh thế kỷ 15, và nhà Thanh thế kỷ 18. Rất may nước ta có Lê Lợi và Quang Trung, nối tiếp tinh thần Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, đã lãnh đạo cả nước đấu tranh giành lại được độc lập.

Đến đời nhà Nguyễn, lạc hậu, chậm phát triển, “bế quan tỏa cảng”, không chịu nghe theo những lời góp ý đổi mới của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Đặng Huy Trứ… để bị người Pháp đô hộ gần 100 năm.

Rồi từ khi có đảng lãnh đạo từ năm năm 1930, người Việt Nam ta đã hùng hục đánh nhau với người Pháp, đuổi người Pháp ra khỏi đất nước vào năm 1954, để lập tức rơi vào cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, giết chết biết bao nhiêu người tư sản vô tội, tiêu diệt tất cả những chủ kinh doanh tài giỏi như Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô,,,.

Rồi người Việt Nam ta lại đánh nhau với người Mỹ, tống cổ Chính phủ Sài Gòn chạy ra nước ngoài, để mong xây dựng ấm no, hạnh phúc.

Thế nhưng sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, thì hàng triệu người bỏ nước ra đi, tạo thành thảm cảnh “thuyền nhân” bi đát chưa từng có trong lịch sử hơn 4000 năm của dân tộc Việt Nam.

Sau năm 1975, đảng cho áp dụng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa một cách triệt để, theo đúng lý luận Mác, Lê-nin, đó là xóa bỏ kinh tế tư nhân, xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ kinh tế thị trường, xóa bỏ tự do giá cả, ngăn cấm đầu tư nước ngoài, áp dụng nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa, chỉ duy nhất tồn tại kinh tế quốc doanh và hợp tác xã, người nông dân phải vào hợp tác xã, đi làm theo tiếng kẻng của hợp tác xã.

Kết quả là đất nước sống trong vựa thóc mà bị đói, phải nhập khẩu gạo và đi xin viện trợ bột mì, sắn, ngô. Hàng hóa khan kiếm, cả nước phải áp dụng chế độ tem phiếu, sổ gạo, đời sống nhân dân không được chăm lo. Người vượt biên bỏ nước ra đi nhiều. Người tài giỏi chỉ biết nhìn đất nước bị suy kiệt mà bị trói chân, trói tay không thể giúp gì cho nước, cho nhà.

Khi đó thật là cùng quẫn.

Thế rồi chúng ta có đổi mới sau Đại hội Đảng lần thứ 6, năm 1986. Nhờ có đổi mới mà nước ta đã vượt ra được khủng hoảng, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện một bước, nụ cười tươi, lạc quan ở tương lai đã bắt đầu xuất hiện trên khuôn mặt người Việt Nam ta.

Thực chất 30 năm đổi mới là gì?

Là Cởi Trói.

Hệ thống chính trị vẫn xã hội chủ nghĩa, nhưng nền kinh tế đã bước đầu vận hành theo kinh tế thị trường của tư bản chủ nghĩa, mà theo cách nói của ta, là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Với đổi mới, Việt Nam đã bước đầu chấp nhận có kinh tế tư nhân, là khu vực kinh tế mà theo lý luận Mác, Lê-nin là phải bị thủ tiêu, vì kinh tế tư nhân sẽ sinh ra bóc lột, và từ đó sinh ra bất công xã hội, sinh ra đấu tranh giai cấp, và chính quyền sẽ bị lung lay, dẫn tới bị lật đổ.

Sở hữu tư nhân về đất đai tuy chưa được thừa nhận trở lại (lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của nước ta là sự hài hòa giữa công hữu và tư hữu về đất đai), nhưng tư liệu sản xuất đã được công nhận quyền tư hữu.

Nông dân tuy chưa được thừa nhận trở lại quyền tư hữu ruộng rất, nhưng được quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, và được tự chủ sản xuất kinh doanh theo chính sách khoán 10 của Bộ Chính trị ban hành từ năm 1987.

Chỉ một chính sách khoán 10 cởi trói cho nông dân, nhà nước không phải tốn một đồng nào để đầu tư, mà nước ta đã sản xuất đủ lương thực để ăn, lại còn dư cho xuất khẩu, và năm 2005, xuất khẩu kỷ lục trên 5 triệu tấn gạo.

Chỉ một chính sách công nhận kinh tế tư nhân, nhà nước không phải đầu tư một đồng nào, mà đến nay cả nước có trên 100.000 công ty tư nhân, huy động hàng trăm ngàn tỷ đồng cho đầu tư phát triển đất nước, đóng góp gần 2/3 cho GDP.

Số tiền đầu tư đó, trước đây chỉ nằm yên trong tủ, chôn sâu trong vườn của người dân, mà không được dùng cho đầu tư phát triển. Nhờ đổi mới, mà đầu tư nước ngoài đổ vào nước ta, đóng góp gần 1/3 cho giá trị GDP.

Có thể nói đổi mới đã đưa nước ta từ bờ vực “loạn” sang “trị”, từ bờ vực “vong” sang “hưng”. Đổi mới là kết quả của những nhân tài đầy bản lĩnh trong Đảng Cộng sản Việt Nam, dám hoạch định con đường đổi mới, không sợ phạm húy, cấm kỵ vào các giáo điều của học thuyết Mác, Lê-nin.

Nhưng Đổi mới có những sai lầm, khiếm khuyết của nó.

Nhiều đại gia hiện nay chủ yếu làm giàu được là nhờ mua đất Nhà nước giá rẻ, xây chung cư, văn phòng, địa ốc bán theo giá thị trường, trở thành tỷ phú đô-la sau một đêm.

Người dân mua chung cư, bị chủ địa ốc bỏ rơi, nhà cửa bị hư hỏng, xuống cấp, giấy tờ nhà đất không được hoàn thiện, lòn dân thật là ai oán.

Tôi đã gặp nhiều bạn trẻ người Sài Gòn sang Nhật học tập, làm việc. Các bạn sinh ra sau năm 1975, hoàn toàn không biết chính phủ Sài Gòn cũ như thế nào. Thế mà các bạn cũng tâm sự rằng “giá đừng có giải phóng có hơn không”.

Thế đấy.

Người Việt Nam ta đã làm biết bao nhiêu cuộc cách mạng, đã hi sinh biết bao nhiêu xương máu, đã thống nhất đất nước, thế mà nay, cùng với vấn nạn corona COVID19, là lòng dân không yên, là người ta mơ ước được trở lại thời “Chính quyền ông Thiệu”.

Thế tức là cái thế nước Thịnh-Suy vẫn tiếp tục lơ lửng trên đầu người Việt Nam.

Thế tức là bài thơ “Thăng Long hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quang ngày xưa, bây giờ vẫn đúng:

“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay đà đã mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn chau mặt với tang thương.

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *