Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

*W.Minh Tuấn.

Cách đây gần 75 năm, vào ngày mồng 9 tháng 11, năm 1946, Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa họp tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, bản Hiến pháp 1946.

Trước đó 1 năm, vào tháng 11 năm 1945, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tuyên bố ra đời vào ngày mồng 2 tháng 9, năm 1945, bản Dự án Hiến pháp đã được Chính phủ soạn thảo, làm tiền đề để xây dựng dự thảo Hiến pháp 1946.

Ngày mồng 2 tháng 3 năm 1946, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 1, đã bầu Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 người, là những nhà trí thức nổi tiếng của Việt Nam, như bác sỹ Trần Duy Hưng, nhà văn hóa Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, nhà thơ Cù Huy Cận, nhà văn Nguyễn Đình Thi, bà Nguyễn Thị Thục Viên, hiệu trưởng trường nữ thục Thăng Long, nay là trường Hai Bà Trưng,,,.

Ban Dự thảo Hiến pháp có nhiệm vụ căn cứ vào Dự án Hiến pháp của Chính phủ, tập hợp ý kiến đóng góp của nhân dân, tham khảo Hiến pháp của các nước châu Á, châu Âu,,,để xây dựng một bản Hiến pháp tốt nhất cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ đang khao khát tự do, dân chủ.
Ngày mồng 9 tháng 11, năm 1946, Quốc hội khóa 1 họp tại Nhà hát lớn Hà Nội đã thông qua bản Hiến pháp năm 1946, với tỷ lệ phiếu gần như tuyệt đối, 240/242 đại biểu dự họp.
Thế nhưng đó là thời điểm nước ta sắp bước vào ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, nên Quốc hội đã biểu quyết chưa ban hành Hiến pháp 1946, mà giao cho Ban Thường trực Quốc hội phối hợp với Chính phủ, dựa vào các nguyên tắc của bản Hiến pháp 1946 để quy định việc thi hành Hiến pháp trong các hoàn cảnh cụ thể trong tình hình đất nước kháng chiến.

Trong suốt 9 năm kháng chiến trường kỳ, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dựa vào Hiến pháp 1946 để ban hành nhiều sắc lệnh điều hành đất nước, thành lập các bộ, ban, ngành, ra qui chế hoạt động của các bộ, ban , ngành, bổ nhiệm các chức vụ đại tướng cho tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh khác,,,.
Đến năm 1959, Việt Nam chuẩn bị cuộc chiến tranh lâu dài chống Mỹ, thống nhất đất nước, nên đã làm Hiến pháp 1959 thay thế Hiến pháp 1946.

Đây thực sự là một sự vội vã không cần thiết, nhưng chúng ta cũng phải thông cảm cho tình hình đất nước Việt Nam khi đó, năm 1959. Khi đó, đất nước Việt Nam bị chia thành 2 miền, người Mỹ can thiệp vào tình hình Việt Nam.

Cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, và chống sự can thiệp của người Mỹ chỉ có thể nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, và toàn bộ phe Xã hội Chủ nghĩa khi đó. Bởi vậy một bản Hiến pháp quá dân chủ, tự do như bản Hiến pháp 1946 có lẽ sẽ làm e ngại sự ủng hộ của các nước trong phe Xã hội Chủ nghĩa khi đó, nhất là Liên Xô, Trung Quốc. Nên đó là lý do khiến Nhà nước Việt Nam non trẻ năm 1959 đành phải thay đổi bản Hiến pháp 1946 dân chủ-tự do tuyệt vời bằng một bản Hiến pháp mới ít tự do hơn, ít dân chủ hơn, bảo thủ hơn.

Đến năm 1980, sau khi chiến tranh kết thúc, ông Tổng bí thư Lê Duẩn với sự sung sướng tuyệt đỉnh về vinh quang chiến thắng, nên ông đã tự xây dựng học thuyết sai lầm và ngớ ngẩn về “Quyền làm chủ tập thể”, về ‘Pháo đài cấp huyện”, từ đó ông Lê Duẩn chỉ đạo cho làm bản Hiến pháp 1980 để phục vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, xây dựng “Quyền làm chủ tập thể”, xây dựng “Pháo đài cấp huyện”.

Đến năm 1992, bắt đầu “đổi mới”, Nhà nước Việt Nam và đảng cộng sản cảm thấy Hiến pháp 1980 quá cứng nhắc, quá giáo điều, không thể phù hợp cho tiến trình Đổi Mới, nên đảng và Nhà nước cho xây dựng Hiến pháp 1992 để xây dựng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để phủ hợp với tiến trình đổi mới.

Khi đó, vẫn chưa có ai nghĩ và dám nói về việc lấy lại bản Hiến pháp 1946 đầy dân chủ và tự do, không thua kém gì hiến pháp Nhật, Mỹ, Pháp, Đức, Canada,,,.
Như vậy đến nay Việt Nam, do tình hình đất nước chiến tranh loạn lạc, nên chỉ trong thời gian ngắn hơn 40 năm, Việt Nam đã có tới 4 bản Hiến pháp, nhưng bản Hiến pháp đầu tiên 1946 là có giá trị nhất.
Hiến pháp 1946 viết rất ngắn gọn, chỉ có 70 điều, so với 112 điều của Hiến pháp 1960, 147 điều của Hiến pháp 1980,  và 147 điều của Hiến pháp 1992.

Hiến pháp 1946 không hề nói đến chủ nghĩa xã hội, đến chủ nghĩa cộng sản, mà chỉ nói đến xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, cộng hòa, và tự do.

Về bản chất, Hiến pháp 1946 của Việt Nam không khác gì lắm các Hiến pháp dân chủ của Nhật, của Mỹ, của Pháp,,,.

Điều khác cơ bản là Hiến pháp 1946 của Việt Nam chỉ quy định Quốc hội 1 Viện, không có Thượng viện hay Hạ viện như các nước dân chủ tự do khác.

Các nhà lập pháp và các nhà nghiên cứu sau này sẽ cho ý kiến xem Quốc hội 1 Viện của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là tốt hay xấu.

Nhưng ít nhất có một điều tốt, là Quốc hội 1 viện sẽ không có cãi nhau giữa Thượng viện và Hạ viện, nó vừa bảo đảm tính tập trung quyền lực cao của Quốc hội và Chính phủ, vừa bảo đảm tính dân chủ nghị viện.

Có thể nói, không có một nước xã hội chủ nghĩa nào, cả cũ và mới, dám làm một bản Hiến pháp có tính dân chủ và tự do như Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chỉ tiếc rằng sau khi Quốc hội Khóa 1 thông qua Hiến pháp 1946 này, ngày 9 tháng 11 năm 1946, thì hơn 1 tháng sau, vào ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên Hiến pháp 1946 không được thực hiện trọn vẹn, chỉ được thực hiện trong một số tình hình cụ thể.

Nhưng có thể nói, chiens thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là thành quả vĩ đại nhất của Hiến pháp 1946.

Không có Hiến pháp 1946, thì không thể có chiến thắng với người Pháp tại trận Điện Biên Phủ.

Chính những tinh thần dân chủ, tự do trong Hiến pháp 1946 đã tạo cho dân tộc Việt Nam ta những sức mạnh vô song, đoàn kết được toàn dân xung quanh đảng Lao động Việt Nam để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.
Điều 10 của Hiến pháp 1946 quy định rất ngắn gọn, rõ, và đanh thép về quyền của công dân:

“Công dân Việt Nam có quyền:
-Tự do ngôn luận
-Tự do xuất bản
-Tự do tổ chức và hội họp
-Tự do tín ngưỡng
-Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.”
So với Hiến pháp 1992 hiện hành, dân Việt Nam cũng có các quyền như Hiến pháp 1946 quy định, nhưng thường bị gài thêm câu “theo quy định của pháp luật”, nên trong thực tế các quyền đó bị luật pháp trói buộc lại nhiều, khiến cho luật đứng trên Hiến pháp, chứ không phải Hiến pháp đứng trên luật.

Chẳng hạn như quyền tự do cư trú. Hiện nay Việt Nam  đã bước đầu thực hiện cơ chế thị trường, thị trường hàng hóa và thị trường vốn đã được tự do. Nhưng với chính sách Hộ khẩu như hiện nay, cho dù đã có nhiều cải tiến, thị trường lao động vẫn chưa thực sự được tự do, vì người lao động chưa được tự do di chuyển, tự do cư trú. Bởi vậy nền kinh tế còn bị nhiều trói buộc.

Như vậy chỉ riêng về mặt tự do cư trú, Hiến pháp 1946 khoa học hơn Hiến pháp hiện hành. Và chúng ta cũng nên nhớ rằng, lịch sử nước ta 4000 năm, ông cha ta đều được tự do cư trú, chứ không bị trói buộc như hiện nay. Hà Nội 36 phố phường cũng là nhờ có tự do cư trú, người dân ở các địa phương kéo về Hà Nội lập nghiệp, tạo nên các phường nghề ở Hà Nội.
Điều 12 Hiến pháp 1946 quy đinh rất rõ:

“Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”.

Quy định như vậy sẽ làm yên lòng các nhà đầu tư tư nhân, hạn chế được rất nhiều các cuộc thanh tra, kiểm tra, bắt bớ, tịch thu, bỏ tù sai trái.

Quy định về quyền tư hữu như thế này, thì làm sao có chế độ công hữu, “cha chung không ai khóc” được.
Điều 15 quy định:

“Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước.”

Điều 20 quy định “Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu do mình bầu ra,,,,”.

Điều 30 quy định “ Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe”. Điều này tiến bộ như Hiến pháp các nước dân chủ. Ở Nhật, người dân muốn vào dự kỳ họp của Nghị viện, chỉ cần điền vào tờ khai, đăng ký trước, là được bố trí vào dự họp.

Các kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Khóa 1 trong năm 1946, công chúng đều được vào dự họp, giám sát các nghị sĩ do mình bầu ra họp hành, thảo luận, phát biểu thế nào.

Từ sau năm 1946 đến nay, người dân Việt Nam không còn được vào dự họp Quốc hội nữa.

Dân Việt Nam muốn gặp các vị Đại biểu Quốc hội do mình bầu ra cũng khó.
Điều 55 quy định “Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức.,,,Nội các mất tính nhiệm thì phải từ chức”.

Như vậy không phải chỉ một vài Bộ trưởng xin từ chức, mà tất cả Chính phủ cũng phải từ chức, nếu bị mất tín nhiệm với nhân dân.

Điều 70, điều cuối cùng, quy định về sửa đổi Hiến pháp, “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn, thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.

Tất cả các lần sửa đổi, làm Hiến pháp mới sau này của Việt Nam, đều vi phạm Điều 70 này, vì không đưa ra cho toàn dân phúc quyết, mà chỉ đưa ra lấy ý kiến nhân dân một cách hình thức, dân chủ giả hiệu.
Theo đánh giá của Quốc hội hiện nay, nói về ý nghĩa của bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, thì:

“Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, là một bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém một bản Hiến pháp nào trên thế giới. Nó là bản Hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện”.
Một bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ là điều kiện đầu tiên cho mọi sự phát triển của một quốc gia.
Hãy thử hình dung xem.

Nếu như vào năm 1946, người Pháp tôn trọng quyền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không gây chiến tranh, thì hẳn bản Hiến pháp 1946 sẽ được thi hành rộng rãi và thuận lợi, và Việt Nam không cần phải làm các Hiến pháp sai lầm năm 1959, 1980, và 1992 nữa.

Và người Pháp sẽ không phải chuốc lấy thất bại ở trận Điện Biên Phủ.
Sau đó nếu người Mỹ hiểu rằng nếu để Việt Nam áp dụng bản Hiến pháp năm 1946, thì ở Việt Nam sẽ không có chủ nghĩa cộng sản, và không cần gây chiến tranh để tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản ở ViệtNam, và người Mỹ sẽ không phải bị thất bại vào năm 1975.
Và rất có thể ngày nay, như lời ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore nói khi đến thăm Việt Nam, là đáng lẽ vị trí số một ở châu Á phải là Việt Nam, chứ không phải là Nhật Bản.
Thế nhưng vẫn chưa muộn.
Nếu như một ngày nào đó, nước Việt Nam đổi mới dưới sự lãnh đạo của đảng dũng cảm lấy lại bản Hiến pháp 1946, thay thế bản Hiến pháp hiện hành năm 1992, thì chắc chắn lời nhận xét của ông Lý Quang Diệu về một nước Việt Nam số một châu Á sẽ trở thành hiện thực trong tương lai không xa.

Quốc hội Khóa 13 năm 2011 đã từng quyết định sẽ sửa đổi Hiến pháp 1992, và sẽ tiếp thu Hiến pháp 1946 trong sửa đổi Hiến pháp 1992.

Thế nhưng sau đó không thấy nói gì nữa, chỉ có vài sửa đổi lèo tèo không có ý nghĩa gì.

Tất cả chỉ phụ thuộc vào lòng dũng cảm của đảng và nhân dân Việt Nam.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *