Giáo sỹ Alexandres de Rhodes nói về người Việt Nam thế kỷ 17

W.Minh Tuấn

Lời giới thiệu

Tôi dạy tiếng Việt ở trường đại học Ngoại ngữ Tokyo.

Lần đầu tiên ghé vào thư viện của trường, tôi thấy cái tủ kính to bày ở phía tiền sảnh lối vào, bên trong có bày vài cuốn sách có vẻ sách cũ, sách cổ. Tôi ghé nhìn thử xem có gì hay, thì thật ngạc nhiên, thấy 1 cuốn sách có mấy chữ có vẻ tiếng Việt, cuốn sách rất cũ.

Tôi chú ý đọc kỹ 2 trang mà cuốn sách đó mở ra, thấy đó là từ điển Việt-Bồ-La của giáo sĩ Alexandres De Rhodes, xuất bản khoảng năm 1600, cách đây hơn 400 năm.

Từ đó tôi tìm hiểu kỹ về giáo sĩ vì đại này, và dưới đây là các thông tin tôi tìm được về giáo sĩ.

Nếu không có ông, thì có lẽ người Việt chúng ta bây giờ không dùng chữ alphabet như ngày nay, mà dùng chữ Hán như ngày xưa.

Người Việt chúng ta phải cảm ơn vị giáo sĩ Alexandres De Rhodes nhiều lắm.

                              ************************

Giáo sĩ Alexandes De Rhodes người Pháp, sinh năm 1593, mất năm 1660.

 Ông đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1625 tại miền Nam Việt Nam, xứ Đàng Trong-chúa Nguyễn, để truyền đạo.

Ngày mồng 3 tháng 7 năm 1645, ông bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi Việt Nam, vì Việt Nam cũng cấm truyền đạo.

Ông đã sống ở Đàng trong (miền Nam) khoảng 5 năm 7 tháng, và sống ở Đàng Ngoài (miền Bắc) khoảng 3 năm 2 tháng.

Sau 6 tháng đến Việt Nam, ông đã học tiếng Việt và nói thông thạo tiếng Việt, và bắt đầu truyền đạo bằng tiếng Việt.

Ông cùng các giáo sĩ khác đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ Việt Nam ngày nay.

Nếu không có giáo sỹ Alexandes De Rhodes và các giáo sỹ phương Tây khác, thì người Việt Nam ta ngày nay sẽ vẫn dùng chữ Hán để học, viết, đọc.

Năm 1661, ông xuất bản cuốn Từ điển Việt-Bồ Đào Nha-Latinh đầu tiên, dày gần 500 trang. (Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum).

Trong cuốn Từ điển này, có in cùng cuốn Văn phạm Việt Nam ( Linguae Annamitiacae seu Tunchinensis Brevis Declaratio) . Đây là cuôc sách ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên ở Việt Nam.

Về mặt lịch sử, ông đã viết cuốn Lịch sử xứ Bắc (Histoire du Royaume du Tonkin) bằng tiếng Ý năm 1650, và cuốn Hành trình và truyền giáo(Divers Voyages et Missions) bằng tiếng Pháp, năm 1651.

Trong cuốn Lịch sử xứ Bắc, ông nhận xét về Hà Nội (khi đó có tên là Kẻ Chợ) như sau:

Thành phố Kẻ Chợ (Ca-cho) về diện tích có thể sánh ngang với nhiều thành phố Á châu; nó hơn phần nhiều các thành phố đó về dân số, nhất là những ngày mồng một, và ngày Rằm Âm lịch, là những ngày có phiên chợ, bán hàng, nhân dân các làng lân cận tuôn đến với hàng hóa, đông đúc vô cùng.

Nhiều đường phố tuy rất rộng rãi, vậy mà đông người chen lấn, thành ra có đi được một trăm bước cũng mất nửa giờ.

Mỗi phố buôn bán một thứ hàng riêng, và các phố ấy lại phân chia nhau thành các phường mà chỉ người trong phường mới được quyền mở hàng trong phường mình, kiểu như các Tổ hợp nghề nghiệp (corporations) ở các thành phố châu Âu”

Ông nhận xét về tục ăn trầu của người Việt như sau:

Nhân dân sở tại có tục ăn trầu cau (blau cau), nhà khá giả thì tôi, tớ hay người nhà têm trầu, người bình dân thì thường phải mua trầu têm sẵn ở ngoài. “Người ta đếm được tới 50 000 người bán trầu cau với giá rẻ, ở các địa điểm trong thành phố, do đó luận được số người dân mua tràu lớn lao vô kể”.

Về món ăn Việt Nam, ông nhận xét:

“Đã hẳn đất ở đây không sản xuất lúa mì, trái nho, dầu o-liu, nhưng đừng nên tưởng sống ở đây kham khổ. Họ có những thứ mà ta không có, do đó, bữa ăn của họ chẳng thua kém bữa ăn của người Âu. Họ không dùng quá nhiều thứ nước béo như ta, vì vậy mà họ khỏe mạnh hơn, và tránh được nhiều thứ bệnh mà ta thường mắc”.

“,,,nhiều hột tiêu bán cho người Tàu, nhiều tơ lụa dung cả vào những việc thường như làm lưới đánh cá, hay đánh dây thuyền, nhiều đường xuất cảng sang Nhật, chỉ có 2 xu một nửa ki-lô, mà phẩm chất vẫn tốt, tuy không lọc trắng được bằng đường của chúng ta,,,. Mía thì rất nhiều và ngon, người ta ăn mía như ta ăn trái táo”.

Về quân sự của người Việt, ông nhận xét chúa Trịnh-miền Bắc, có khoảng 600 chiến thuyền, chúa Nguyễn-miền Nam có khoảng 200 chiến thuyền. Và người chèo thuyền không bị khinh rẻ như bên châu Âu. Người lính nào cũng coi trong việc chèo thuyền. Ông nói binh lính người Việt được trang bị súng trường, súng hỏa mai, và họ bắn rất giỏi. Tất nhiên ông cũng hiểu được rằng vũ khí của người Việt ta khi đó còn rất thô sơ, nên độ chính xác bắn không cao.

Ông nhận xét khi thao diễn, hay ra trận, các thuyền thường đi hàng ba, hoặc hàng năm, đều một mực, không thuyền nào nhô lên quá một thước.

Về quan hệ giữa người với người trong quân đội Việt Nam ông nhận xét:

Không bao giờ thấy có ai cãi cọ nhau, hay nói lời tức giận, khinh bỉ; không ai nghe họ đấu gươm, đổ máu bao giờ, thật khác hẳn với binh lính ở Tây Phương”.

“Dầu họ đánh giặc rất giỏi, coi thường mạng kẻ địch, nhưng đối với nhau, họ lại thương yêu nhau như anh em ruột, và không bao giờ tôi nghe thấy một người lính dùng khí giới đánh người đồng đội”.

So sánh người Việt với người Trung Hoa, Giáo sĩ Alexandre De Rhodes nhận xét rằng người Việt không kiêu ngạo như người Trun Hoa, và dễ giao thiệp hơn người Trung Hoa.

Về nền giáo dục của người Việt Nam, ông nhận xét:

Không một người dân nào, sang hay hèn, mà không cho con học chữ Hán ngay từ khi còn nhỏ, nhờ vậy, trong nước không ai là không có ít nhiều kiến thức, không ai bị dốt nát hoàn toàn”.

Sau Giáo sĩ Alexandre De Rhodes hơn 50 năm, một giáo sĩ khác tên là  J.P. De Marini cũng nhận xét “bảy trường học và đại học đường công cộng, chia ra mỗi tỉnh một trường, ai có khiếu đều có thể vào học, số học sinh có khi lên đến 30.000 người”.

Về luật pháp của Việt Nam, ông Alexandre De Rhodes nhận xét:

“Công lý ở xứ này, theo ý tôi, cũng được trông coi hoàn hảo như bất cứ nước nào khác trên thế giới. Chính nhà Vua ban lương bổng cho các quan, và cấm họ không được lấy lợi lộc gì trong bất kỳ một vụ án nào, nhờ vậy, người dân không phải tốn kém gì khi phải bênh vực quyền lợi cho mình.

Vì thế nên không hề có các thứ giấy tờ, thể thức gây bao tốn kém và phiền phức như ở Tây phương. Nếu người dân ở đây biết cách thức làm việc ở các Tào án, và các thể thức phiền phức ở nước ta, thì không biết họ sẽ nói về ta như thế nào.”

Ông rất cảm phục một luật lệ bất thành văn ở Việt Nam, mà ông cho là tốt đẹp nhất, là: nếu người trong họ có điều gì xích mích cần giải quyết, thì trưởng họ sẽ xử lý, chứ không phải quan-tức tòa án.

“Nếu điều ấy có ở xứ ta, thì đã bớt được ¾  (ba phần tư) các vụ kiện.”

Ông cũng rất khen điều luật của Việt Nam là cấm người làm quan ở ngay quê của mình, cấm lấy vợ ở nơi mình làm quan, để giữ khách quan và thanh liêm cho quan.

Khi bị trục xuất ra khỏi Việt Nam vào ngày mồng 3 tháng 7 năm 1645, giáo sỹ Alexandre De Rhodes đã viết như sau về tình cảm của ông với Việt Nam:

“Tôi từ giã xứ Nam bằng thể xác, nhưng chẳng phải bằng lòng trí, cả đối với xứ Bắc cũng vậy. Thật sự, tâm hồn tôi để trọn ở hai nơi ấy, và tôi tưởng không bao giờ lòng trí của tôi có thể rời khỏi đó.”

Năm 1660, khi 70 tuổi, ông mất tại Iraq, khi ông truyền đạo ở đó.

Nghe nói ở Sài Gòn năm 2010 đã cho đặt tên đường phố Alexandes De Rhodes, nhưng Nhà nước Việt Nam  đến nay vẫn chưa có quyết định chính thức công nhận công lao sáng tạo ra chữ quốc ngữ tiếng Việt ngày nay của giáo sỹ Alexandes De Rhodes, và của các giáo sỹ người Pháp và phương Tây khác.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *