BÀI 1: Chiến tranh Triều Tiên năm 1950-1953: “kháng Mỹ, viện Triều”.

*W. Minh Tuan

Phần 1: Bắc Triều Tiên tấn công.

Nước Triều Tiên bị Nhật xâm lược, và đến năm 1945, kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ 2, Nhật thua trận, nước Triều Tiên được tạm chia thành 2 miền Nam-Bắc, chờ thống nhất.

Bắc Triều Tiên do Liên Xô chiếm, được giao lại cho ông Kim Nhật Thành (Kim Il Sung) quản lý. Miền Nam Triều Tiên do Mỹ chiếm, được giao cho Chính phủ thân Mỹ quản lý.

Điều này hoàn toàn giống như 2 nước Đông Đức và Tây Đức sau khi Chiến tranh Thế thứ 2 kết thúc: Đông Đức do Liên Xô chiếm, nên giao cho Chính phủ xã hội chủ nghĩa của ông Eric Honecker quản lý. Tây Đức do Mỹ chiếm, giao cho Chính phủ dân chủ-tự do thân Mỹ quản lý.

Nhưng nếu như ông Honecker của Đông Đức không tìm cách thống nhất nước Đức bằng vũ lực, thì ông Kim Nhật Thành (Kim Il Sung) lại muốn sự vĩ đại của ông đến nhanh hơn, nên ông muốn chiếm miền Nam bằng vũ lực cho nhanh, chứ chờ chiếm bằng hòa bình thì biết đến bao giờ.

Thế cho nên, đầu năm 1950, ông Kim Il Sung, bay sang Moscow-Liên Xô, và sang Bắc Kinh-Trung Quốc, để xin ý kiến về việc sẽ thống nhất nước Triều Tiên bằng quân sự.

Khi đó, toàn bộ vũ khí, đạn dược của quân đội Bắc Triều Tiên do Liên Xô giúp. Ngoài ra, quân đội Bắc Triều Tiên có món võ Taekwondo riêng của mình, vung chân đá như gió, ai vướng đòn là mất hàm, vỡ mặt ngay.

Ngày mồng 1 tháng 10 năm 1949, nước Trung Quốc cộng sản chiếm được chính quyền, đuổi Chính phủ của ông Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan. Và từ đó, Trung Quốc cộng sản cũng ủng hộ ông Kim Il Sung về quân sự, vũ khí, đạn dược. Tức là quân đội Bắc Triều Tiên được 2 nước to là Liên Xô, và Trung Quốc ủng hộ, nên khá lớn mạnh, so với quân đội Nam Triều Tiên chỉ do Mỹ ủng hộ.

Khi đó, ông Xtalin, lãnh tụ Liên Xô cho rằng Mỹ sẽ không dính líu sâu vào Triều Tiên, vì ông Xtalin cho rằng Triều Tiên không có ý nghĩa chiến lược lắm đối với lợi ích của Mỹ. Thứ hai, nếu Liên Xô ủng hộ Bắc Triều Tiên thành công, thì ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Á sẽ tăng lên vượt Mỹ.

Bởi vậy ông Xtalin ủng hộ đề nghị của ông Kim Il Sung, nhưng với điều kiện là Trung Quốc cũng phải hỗ trợ Bắc Triều Tiên về quân sự khi cần thiết.

Ông Kim bay sang Bắc Kinh, xin ý kiến Mao Trạch Đông. Nước Trung Quốc khi đó vừa mới giành được chính quyền sau cuộc Vạn lý Trường Chinh vất vả, mọi thứ đều thiếu thốn. Nên lúc đầu, Mao cũng ngại Mỹ sẽ can thiệp vào. Nhưng sau đó, Mao ủng hộ Kim, vì hai lẽ:

Thứ nhất, nếu Trung Quốc ủng hộ Bắc Triều Tiên, thì Liên Xô sẽ ủng hộ Trung Quốc. Khi đó, Trung Quốc rất cần sự viện trợ kinh tế, quân sự của Liên Xô.

Thứ hai, Mao cũng muốn vĩ đại, thắng lợi ở Triều Tiên sẽ giúp củng cố hình ảnh của Mao ở Trung Quốc, trở thành vị lãnh tụ vĩ đại nhất mọi thời đại.

Thế cho nên khi ông Kim trở về Bình Nhưỡng, thủ đô Bắc Triều Tiên, thì cả Liên Xô và Trung Quốc đều cử các nhân viên quân sự có nhiều kinh nghiệm chinh chiến sang Bắc Triều Tiên giúp huấn luyện quân đội Bắc Triều Tiên, và đồng thời gửi thêm vũ khí, đạn dược sang cho ông Kim.

Ông Kim Il Sung lập tức cho quân đội bí mật lập kế hoạch tổng tấn công qua vĩ tuyến 38 để thôn tính Nam Triều Tiên, trong một chiến lược dự định chỉ kéo dài vài tháng là hoàn thành.

Bình minh ngày 25 tháng 6 năm 1950, được quân đội ông Kim lập kế hoạch là ngày mở đầu cuộc tấn công bất ngờ qua vĩ tuyến 38.

Khi đó, tình hình ở Nam Triều Tiên rất bi đát.

Nhà nước Nam Triều Tiên là Nhà nước tự do, đa đảng, nên các đảng phái chỉ lo đấu đá lẫn nhau để giành quyền lực. Trong một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, cần có một Nhà nước mạnh và thống nhất, không bị đấu đá phe phái. Trong tình hình chiến tranh như thế, thì một Nhà nước một đảng độc tài sẽ hữu hiệu hơn là một Nhà nước tự do nhiều đảng phái.

Kết quả là Bắc Triều Tiên tập trung xây dựng được một quân đội hơn 200.000 người, với 210 máy bay chiến đấu, 280 xe tăng, do Liên Xô và Trung Quốc giúp. Trong khi đó, Nam Triều Tiên chỉ lo tranh giành đảng phái, không lo xây dựng quân đội, nên chỉ có một quân đội hơn 98.000 người, huấn luyện sơ sài, không có cả xe tăng lẫn súng chống tăng, không có đại bác lớn, chỉ có 22 máy bay huấn luyện và liên lạc, không phải máy bay chiến đấu. Và trong số quân 98.000 người này của Nam Triều Tiên, thì vào đầu cuộc chiến tranh, chỉ có 22.000 quân tham gia chiến đấu, còn lại là đào ngũ, hoặc đang nghỉ phép, đi du lịch,,,.

Và tình hình này còn bị trầm trọng hơn nữa, vì không có ai ở miền Nam Triều Tiên chú ý đề phòng, theo dõi các động tĩnh từ phía Bắc Triều Tiên. Kể cả chi nhánh CIA của Mỹ ở Nam Triều Tiên, mặc dù nhận thấy tình hình chuyển quân không bình thường từ phía Bắc, nhưng chỉ chủ quan nhận định rằng đây chỉ là các “hành động phòng thủ” của Bắc Triều Tiên.

Mờ sáng ngày 25 tháng 6 năm 1950, quân Bắc Triều Tiên gồm khoảng 100.000 quân đồng loạt tấn công toàn tuyến biên giới dọc theo vĩ tuyễn 38. Quân Nam Triều Tiên hoàn toàn bị bất ngờ, chống cự yếu ớt, và tháo chạy tán loạn.

Hai ngày sau, vào ngày 27 tháng 6, Chính phủ Nam Triều Tiên của ông tổng thống Lý Thừa Vãn bỏ chạy khỏi thủ đô Sơ-un, mà nằm cách biên giới chỉ khoảng 50 km. Ngày 28 tháng 8, quân đội Nam Triều Tiên tổng tháo chạy về phía Nam, và cho giật mìn phá cầu qua sông Hán, để chặn đường tiến quân của Bắc Triều Tiên, khi đang có 4000 người qua cầu.

Còn hơn thế nữa, trong cuộc chiến tranh Triều Tiên kéo dài 3 năm 1950-1953, cả hai phía Nam-Bắc Triều Tiên đều tiến hành các cuộc tàn sát tàn bạo, giết hàng chục nghìn người Triều Tiên mà bị cho là đi theo bên kia.

Trong chiến tranh Việt Nam, cũng có việc bên này giết người của bên kia, cũng có nhiều người bị giết oan, nhưng không có những cuộc tàn sát lớn hàng ngàn, hàng chục ngàn người bị giết để trả thù nhau như ở hai miền Nam-Bắc Triều Tiên.

Ngay trong ngày đầu tấn công 25 tháng 6 năm 1950, Liên Hợp Quốc đã họp, bỏ phiếu lên án hành động tấn công của Bắc Triều Tiên, và ủy thác cho quân đội các nước đồng minh hỗ trợ Nam Triều Tiên.

Tổng thống Mỹ Truman khi đó đã liên tưởng đến cuộc chiến tranh chống Hitler trước đây. Khi Hitler bắt đầu tấn công các nước châu Âu, Mỹ đã im lặng, không can thiệp, khiến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai lan rộng. Bởi vậy lần này, ông Truman quyết tâm cho quân đội Mỹ can thiệp vào Triều Tiên, cùng với quân đội của các nước khác mà do Liên Hiệp Quốc ủy nhiệm.

Tổng thống Truman ra lệnh cho đại tướng Mac Arthur, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, đang đóng Tổng trụ sở tại Tokyo, Nhật Bản, sẽ là Tổng chỉ huy luôn cuộc chiến tranh Triều Tiên.

Trong khi Tổng thống Mỹ Truman, và tướng Mac Arthur đang loay hoay huy động quân đội đưa sang Nam Triều Tiên, thì quân đội Nam Triều Tiên, và sư đoàn số 24 của quân Mỹ vốn đang ở sẵn ở Nam Triều Tiên đã bị thiệt hại nặng nề.

Quân Mỹ chạm trán quân Bắc Triều Tiên lần đầu tiên trong trận Onsan. Ngày 5 tháng 7, toán đặc nhiệm Smith (do trung úy Smith cầm đầu) của Mỹ gồm 540 người đã phục kích quân đội Bắc Triều Tiên. Mặc dù nhóm đặc nhiệm này đã chuẩn bị trận địa phục kích trước ba ngày, và quân Bắc Triều Tiên hoàn toàn bị bất ngờ, nhưng nhóm đặc nhiệm này đã bị thất bại, thua chạy tán loạn. Lý do là quân Mỹ đã đánh giá thấp lực lượng, và vũ khí của quân Bắc Triều Tiên. Toán Smith này không nghĩ rằng quân Bắc Triều Tiên có xe tăng. Khi xe tăng Bắc Triều Tiên xuất hiện, thì quân Mỹ mới phát hiện là họ không mang theo vũ khí nặng chống tăng, chỉ có súng chống tăng nhẹ để diệt xe jeep. Quân Bắc Triều Tiên núp sau xe tăng tấn công lên. Quân Mỹ dùng súng tiểu liên, đại liên, súng chống tăng nhẹ bắn vào xe tăng, chỉ như gãi ghẻ.

Không có xe tăng nào của Bắc Triều Tiên bị bắn hạ. Kết quả là 180 lính Mỹ bị tiêu diệt, số hơn 200 lính Mỹ bị bắt làm tù binh, và một số ít trốn thoát.

Thật là nhục nhã với một quân đội vừa chiến thắng vang dội trong chiến tranh thế giới thứ hai mới trước đó 5 năm.

Sau đó, từ ngày 14 đến ngày 21 tháng 7 năm 1950, đã diễn ra trận Taejon. Toàn bộ 11.000 quân của sư đoàn 24 đánh nhau với 15.000 quân Bắc Triều Tiên. Có thể nói, quân số như vậy không chênh nhau lắm. Nếu có vị chỉ huy giỏi, thì 11.000 quân này có thể đánh nhau ngang ngửa, nếu không nói có thể thắng được số quân đông hơn một chút kia.

Chúng ta đã biết vua Quang Trung của Việt Nam ta đã chỉ huy 100.000 quân Việt Nam, đánh tan 200.000 quân Thanh năm 1789 chỉ trong vòng 1 tuần.

Thế nhưng trong chiến tranh Triều Tiên, chỉ huy sư đoàn 24 của Mỹ là tướng William F.Dean, vô cùng bất tài.

Sau trận thất bại của toán Smith, quân Mỹ đã biết lực lượng, cách đánh, vũ khí của quân Bắc Triều Tiên, và có tới 10 ngày để chuẩn bị chiến trường. Nhưng ông thiếu tướng Dean chẳng có kế hoạch cụ thể gì cả, cứ ngồi chờ quân Bắc Triều Tiên một cách thu động.

Ông đại tướng tài giỏi của Mỹ, Mac Arthur mà là Tổng chỉ huy quân đội Mỹ đánh Bắc Triều Tiên, thì ngồi ở tận Tokyo, phì phèo tẩu thuốc lá, để chỉ huy chiến trường ở Triều Tiên.

Kết quả của trận Taejon từ ngày 14 đến 21 tháng 7, quân Mỹ bị chết 3602 người, bị bắt làm tù binh 2962 người, sư đoàn 24 bị xóa sổ.

Ông tướng chỉ huy Dean cũng bị Bắc Triều Tiên bắt làm tù binh, mà lúc đầu, lính Bắc Triều Tiên không phát hiện ra. Sau khi Bắc Triều Tiên phát hiện ra tù binh của họ có ông tướng Dean, họ đã đối xử khá tốt với ông, tôn trọng ông như một vị tướng tù bình, nuôi ông béo tốt, khỏe mạnh, sau đó đã thả ông vào cuối cuộc chiến.

Đây là lần đầu tiên, và cũng là lần duy nhất mà quân đội Mỹ bị bắt làm tù binh một vị tướng chỉ huy sư đoàn.

Như vậy sư đã 24 của Mỹ đã bị xóa sổ. Trách nhiệm là của ông thiếu tướng Sư đoàn trưởng Dean, và của ông đại tướng Tổng chỉ huy Mac Arthur.

Đến tháng 9 năm 1950, quân đội Mỹ đưa được 100.000 quân sang Triều Tiên, cộng với 80.000 Nam Triều Tiên, là 180.000 quân, so với quân Bắc Triều Tiên chỉ có 100.000 quân.

Thế nhưng tình hình thời gian đầu cũng không khả quan lắm. 180.000 quân Mỹ và Nam Triều Tiên đánh nhau rất vất vả với 100.000 quân Bắc Triều Tiên.

Và lý do, một lần nữa là ở cấp chỉ huy của cả Mỹ lẫn Nam Triều Tiên.

Tổng chỉ huy 180.000 quân Mỹ và Nam Triều Tiên ở Triều Tiên là tướng 3 sao Walton Walker, cấp dưới của ông Mac Arthur. Đây cũng là một vị tướng xoàng.

Tổng chỉ huy Mac Arthur là vị tướng giỏi, nhưng có tính tài tử điện ảnh, luôn luôn ngậm cái tẩu thuốc to tướng ở mồm, thích tạo dáng cho các nhà báo chụp ảnh ông.

Ông ngồi ở Tokyo để chỉ huy cuộc chiến tranh ở Triều Tiên. Nên có thể nói, ông chỉ huy trên mây trên gió. Khi cần lập kế hoạch tác chiến, ông Mac triệu tập các tướng dưới quyền từ Triều Tiên bay sang Tokyo, nghỉ ở khách sạn 5 sao, để bàn thảo kế hoạch đánh nhau.

Bởi vậy, ông Mac Arthur không trang bị súng chống tăng cho toán đặc nhiệm Smith, và cũng không có hướng dẫn cụ thể cho ông tướng bất tài Dean, và cho ông tướng cấp trên của ông Dean là Walker. Nên toàn bộ sư đoàn 24 bị xóa sổ.

Về phía quân Bắc Triều Tiên, họ cũng chẳng phải là đội quân giỏi. Họ có yếu tố bất ngờ, và có xe tăng, đại bác, máy bay, trong khi quân đội Mỹ, Nam Triều Tiên trong thời gian đầu không có các vũ khí đó. Bởi vậy trong gần 3 tháng đầu, từ 25 tháng 6 đến tháng 9 năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên thắng lớn, tiến về Nam như vũ bão.

Từ tháng 9, quân Mỹ và Nam Hàn đông gần gấp đôi quân Bắc Hàn, lại được tăng cường vũ khí hạng nặng, cả xe tăng, máy bay, đại bác, nên cục diện chiến tranh dần thay đổi.

Khi cục diện chiến tranh thay đổi, quân Bắc Hàn không thay đổi cách đánh, cứ giữ cách đánh cũ, là ào ạt tấn công trực diện, không có bao vậy, thọc sườn, tạt hậu,,,,nên bắt đầu thất bại thảm hại, và bắt đầu tháo chạy nhanh về phía Bắc.

Khi đó, ông tướng Mac Arthur quyết định cho quân đổ bộ vào phía sau quân Bắc Hàn, là ở cảng Incheon, vào ngày 15 tháng 9, để tạo thành thế hai họng kìm, Bắc đánh xuống, Nam đánh lên vào quân Bắc Triều Tiên.

Cho đến tận bây giờ, nhiều chuyên gia quân sự vẫn tiếp tục thảo luận về ý nghĩa của cuộc đổ bộ này. Ông Mac Arthur thì cho rằng nhờ cuộc đổ bộ quân này, mà cục diện chiến tranh thay đổi, quân Bắc Hàn thua nhanh.

Nhưng có nhiều ý kiến phê phán cuộc đổ quân này, rằng nó chỉ có ý nghĩa củng cố thêm cái tính cách thích phiêu lưu mạo hiểm, và tài tử điện ảnh của ông Mac Arthur. Bởi vì sau khi mạo hiểm đổ quân vào Incheon, quân đổ bộ cử đủng đỉnh đóng lại ở Incheon, và tiến rất chậm về Nam, kéo dài tới trên 10 ngày tiến quân, nên chẳng hề giúp được đạo quân đang tiến từ Nam ra Bắc của Mỹ. Tức là chẳng hề tạo được thế hai họng kìm gì cả.

Đến ngày mồng 7 tháng 10 năm 1950, quân đội Mỹ và Nam Hàn bắt đầu vượt vĩ tuyến 38 vào đất Bắc Hàn.

Lúc này Trung Quốc ra lời cảnh cáo là nếu Mỹ vượt vĩ tuyến 38, Trung Quốc sẽ can thiệp vào Triều Tiên để bảo vệ Bắc Hàn.

Ông đại tướng Mỹ Mac Arthur đưa ra một nhận định rất chủ quan, rằng quân Trung Quốc nếu vào Bắc Hàn, thì giỏi lắm chỉ có thể đưa khoảng 60.000 quân vào. Số quân này chẳng thể đánh nhau với 180.000 quân Mỹ và Nam Hàn, cộng thêm một số quân Úc, Anh, Pháp,,,của Liên Hợp Quốc.

Sau đó, ông Mac Arthur còn nói thêm với vẻ rất hiểu biết quân sự, là nếu quân Trung Quốc vào đông hơn số đó, thì trên đường hành quân, sẽ làm mồi ngon cho lực lượng máy bay ném bom hùng mạnh nhất thế giới của Mỹ, đang đậu trên các tàu sân bay thuộc Hạm đội 7, đang ở ngoài khơi Thái Bình Dương.

Rồi ông Mac Arthur còn có một hành động rất anh hùng ,,,rơm, là tự leo lên máy bay riêng của mình, để đi trinh sát. Từ trên máy bay, ông tướng trực tiếp nhìn xuống đất, và không phát hiện thấy có đoàn quân nào của Trung Quốc đang di chuyển gì cả. Ông hạ cánh xuống, và rất tự hào, nói ngông nghênh rằng “Đấy, tôi không có quan liêu gì cả, tôi, đại tướng, Tổng chỉ huy, đã trực tiếp đi trinh sát, nhìn tận mắt của tôi, là chẳng hề thấy bóng dáng quân đội Trung Quốc tiến vào Bắc Hàn gì cả”.

Ngày 19 tháng 10 năm 1950, 600.000 quân đội Trung Quốc, nhiều gấp 10 lần dự doán của ông đại tướng Mac Arthur, bí mật, lặng lẽ bắt đầu vượt sông Yalu để vào đất Bắc Hàn. Khi vào Bắc Hàn, quân Trung Quốc chỉ hành quân vào ban đêm, với các kỷ luật nghiêm ngặt về giữ bí mật, không đèn, không khói, không đi ban ngày, nên ông Mac Arthur không thể phát hiện ra.

Phần 2: Kháng Mỹ-viện Triều, chiến thuật bí mật, bất ngờ, và biển người của Trung Quốc.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *